Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 99/2025/TT-BTC nhằm thiết lập một khuôn khổ mới cho Chế độ Kế toán Doanh nghiệp. Văn bản này được ban hành trong bối cảnh các quy định kế toán hiện hành đã được áp dụng trong thời gian dài và cần được rà soát, thống nhất lại. Theo đó, Thông tư 99 thay thế toàn bộ các thông tư liên quan trước đây, bao gồm các quy định về chế độ kế toán doanh nghiệp và kế toán đối với đơn vị chủ đầu tư.
Thông tư 99 bắt đầu được áp dụng từ ngày 01/01/2026 cho các kỳ kế toán phát sinh kể từ thời điểm này trở đi. Với nhiều điều chỉnh quan trọng so với quy định cũ, Thông tư 99 được kỳ vọng sẽ tạo ra những thay đổi đáng kể trong việc tổ chức công tác kế toán tại doanh nghiệp. Bài viết này sẽ hệ thống hóa các nội dung trọng tâm của Thông tư, đồng thời phân tích những điểm khác biệt nổi bật so với Thông tư 200, qua đó hỗ trợ người đọc hiểu rõ và chủ động trong quá trình triển khai thực hiện.
Các thay đổi chính liên quan đến nguyên tắc kế toán một số khoản mục
Kế toán hàng tồn kho
Thông tư 99 cho phép doanh nghiệp áp dụng phương pháp chi phí chuẩn để xác định giá trị hàng xuất kho và tồn kho, ngoài các phương pháp đã nêu trong Thông tư 200. Theo phương pháp này, chi phí định mức của sản phẩm được tính theo mức sử dụng bình thường của nguyên vật liệu và công cụ dụng cụ, nhân công, hiệu quả và hiệu suất sử dụng chi phí. Các yếu tố này phải thường xuyên được xem xét lại và nếu cần thiết, phải được điều chỉnh theo các điều kiện hiện tại.
Ngoài ra, Thông tư 99 bãi bỏ khái niệm phương pháp kê khai thường xuyên và kiểm kê định kỳ trong kế toán hàng tồn kho, do không còn phù hợp với thực tiễn.
Kế toán tài sản cố định và bất động sản đầu tư
Chi phí sửa chữa, bảo dưỡng định kỳ tài sản cố định
Theo Thông tư 200, doanh nghiệp được phép trích lập dự phòng cho chi phí sửa chữa lớn, mặc dù các khoản dự phòng này không đáp ứng tiêu chí ghi nhận theo VAS 18 – Dự phòng, tài sản và nợ tiềm tàng, vì thông thường doanh nghiệp không có nghĩa vụ hiện tại phải thực hiện việc sửa chữa. Thông tư 99 loại bỏ hướng dẫn này. Thay vào đó, Thông tư 99 cho phép doanh nghiệp ghi nhận chi phí phát sinh cho sửa chữa, bảo dưỡng định kỳ liên quan đến hoạt động kinh doanh trong nhiều kỳ kế toán vào TK 242 – Chi phí chờ phân bổ và định kỳ phân bổ dần vào chi phí sản xuất kinh doanh cho đến kỳ bảo dưỡng tiếp theo.
Doanh nghiệp đang thực hiện trích trước chi phí sửa chữa lớn TSCĐ nhưng khi Thông tư 99 có hiệu lực thi hành mà hoạt động sửa chữa lớn chưa được thực hiện thì doanh nghiệp không tiếp tục thực hiện trích trước nữa. Khi hoạt động sửa chữa lớn được thực hiện thì doanh nghiệp kết chuyển phần chi phí sửa chữa lớn TSCĐ thực tế phát sinh với số đã trích trước, phần chênh lệch được ghi nhận vào TK 242 và phân bổ dần vào chi phí sản xuất kinh doanh.
Suy giảm giá trị bất động sản đầu tư
Tương tự như Thông tư 200, Thông tư 99 quy định bất động sản đầu tư (BĐSĐT) nắm giữ chờ tăng giá không được trích khấu hao (trừ trường hợp tài sản đang trong thời gian cho thuê). Thay vào đó, doanh nghiệp phải xác định tổn thất do giảm giá trị. Nếu có bằng chứng chắc chắn cho thấy BĐSĐT bị giảm giá so với giá thị trường và khoản giảm giá được xác định một cách đáng tin cậy, doanh nghiệp được đánh giá giảm nguyên giá BĐSĐT và ghi nhận khoản tổn thất vào giá vốn hàng bán.
Hoàn nhập lỗ suy giảm giá trị: Trong khi Thông tư 200 không đề cập đến việc hoàn nhập lỗ suy giảm giá trị của BĐSĐT, Thông tư 99 bổ sung hướng dẫn sau: Tại các thời điểm kết thúc kỳ kế toán, nếu có bằng chứng chắc chắn, tin cậy về việc khoản giảm giá BĐSĐT không còn tồn tại thì doanh nghiệp được ghi tăng nguyên giá BĐSĐT và ghi giảm giá vốn hàng bán (Nợ TK 217/Có TK 632) tối đa bằng số đã ghi giảm và không vượt quá giá gốc ban đầu của bất động sản đầu tư.
Tài sản mua trả chậm hoặc trả góp
Phù hợp với Thông tư 200, tài sản mua theo phương thức trả chậm, trả góp phải được ghi nhận theo giá mua trả tiền ngay (A), cộng với các chi phí liên quan trực tiếp. So với Thông tư 200, yêu cầu phần chênh lệch giữa tổng số tiền trả chậm và giá mua (A) được ghi nhận vào báo cáo lãi lỗ trong suốt thời hạn thanh toán, Thông tư 99 đưa ra các thay đổi như sau:
- Lãi mua trả chậm có thể:
+ Ghi nhận vào chi phí tài chính của từng kỳ; hoặc
+ Vốn hóa theo quy định của VAS 16 – Chi phí đi vay.
- Hướng dẫn chi tiết về việc xác định lãi phát sinh từ giao dịch trả chậm: Nếu hợp đồng không quy định cụ thể về lãi trả chậm, trả góp và thời hạn trả chậm, trả góp trên 12 tháng thì doanh nghiệp phải:
+ Xác định lãi suất ngầm định; và
+ Ghi nhận vào chi phí tài chính (tương ứng với nợ phải trả người bán) của từng kỳ.
- Doanh nghiệp phải thuyết minh lãi trả chậm, trả góp trong phần Thuyết minh Báo cáo tài chính.
Kế toán tài sản sinh học
Thông tư 99 đưa ra định nghĩa, phân loại và phương pháp kế toán đối với tài sản sinh học, tiệm cận với IAS 41 – Nông nghiệp, ngoại trừ nguyên tắc xác định giá trị áp dụng theo giá gốc thay vì giá trị hợp lý.
- Các tài khoản mới được bổ sung:
+ TK 215: Tài sản sinh học
+ TK 2295: Dự phòng tổn thất tài sản sinh học
Phân loại
+ Cây lâu năm cho sản phẩm định kỳ và động vật làm việc được hạch toán như tài sản cố định.
- Các tài sản sinh học còn lại được phân loại và hạch toán theo các tài khoản chi tiết sau:
+ TK 2151: Súc vật nuôi cho sản phẩm định kỳ
+ TK 2152: Súc vật nuôi lấy sản phẩm một lần
+ TK 2153: Cây trồng theo mùa vụ hoặc lấy sản phẩm một lần
Phương pháp hạch toán
- Súc vật nuôi cho sản phẩm định kỳ:
+ Ban đầu, chi phí mua, nuôi dưỡng và chăm sóc vật nuôi chưa trưởng thành được ghi nhận vào giá gốc của tài sản sinh học (TK 21511) cho đến khi trưởng thành.
+ Khi vật nuôi trưởng thành, tài sản sinh học được chuyển sang TK 21512 và bắt đầu trích khấu hao.
+ Các tài sản sinh học này được trình bày là tài sản dài hạn trên Báo cáo tình hình tài chính.
- Vật nuôi/cây trồng theo mùa vụ hoặc lấy sản phẩm một lần:
+ Chi phí mua, nuôi dưỡng và chăm sóc tài sản sinh học đến khi thu hoạch được ghi nhận vào giá gốc của tài sản sinh học.
+ Các chi phí không tạo ra lợi ích kinh tế trong tương lai được ghi nhận vào báo cáo lãi lỗ trong kỳ.
Tổn thất tài sản sinh học
+ Tại thời điểm kết thúc kỳ kế toán, nếu có dấu hiệu hoặc bằng chứng cho thấy tài sản sinh học bị tổn thất hoặc giá trị thuần có thể thực hiện được thấp hơn so với giá trị ghi sổ của tài sản sinh học, doanh nghiệp phải trích lập dự phòng tổn thất tài sản sinh học.
Kế toán hợp đồng hợp tác kinh doanh (hợp đồng BCC)
Thông tư 99 bổ sung hướng dẫn so với Thông tư 200, cụ thể đối với trường hợp một bên không có quyền đồng kiểm soát hợp đồng BCC và làm rõ cách hạch toán khi nhà đầu tư được hưởng lợi ích cố định mà không phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh của BCC như thế nào.
Thông tư nhấn mạnh doanh nghiệp phải căn cứ vào nội dung các điều khoản, bản chất của hợp đồng BCC để xác định doanh nghiệp có quyền đồng kiểm soát hay không và áp dụng phương pháp kế toán phù hợp.
Các bên có quyền đồng kiểm soát đối với BCC dưới hình thức chia lợi nhuận sau thuế
- Tương tự Thông tư 200, Thông tư 99 quy định các bên tham gia cử ra một bên để kế toán toàn bộ các giao dịch của BCC, ghi nhận doanh thu, chi phí, theo dõi riêng kết quả kinh doanh của BCC và phát hành hóa đơn, khai thuế theo quy định của hợp đồng và pháp luật thuế.
- Bên kế toán và quyết toán thuế cho BCC ghi nhận toàn bộ doanh thu, chi phí phát sinh của BCC vào sổ kế toán các tài khoản liên quan để làm căn cứ đối chiếu và xác định doanh thu, chi phí tính thuế của BCC. Tuy nhiên, chỉ những khoản doanh thu, chi phí tương ứng với phần doanh nghiệp được hưởng hoặc phải gánh chịu mới được ghi nhận và trình bày trên Báo cáo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
- Các bên còn lại thực hiện quy định về kế toán tương tự như trường hợp hoạt động kinh doanh đồng kiểm soát.
Các bên không có quyền đồng kiểm soát BCC
- Nếu hợp đồng BCC quy định các bên tham gia nhận lợi ích phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của BCC, doanh nghiệp hạch toán khoản đầu tư vào BCC theo hướng dẫn tại TK 2281 – Đầu tư vào đơn vị khác.
- Nếu hợp đồng BCC quy định bên tham gia được hưởng lợi ích cố định mà không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của BCC thì tùy theo bản chất của hợp đồng, doanh nghiệp kế toán như sau:
+ Nếu doanh nghiệp góp vào BCC bằng tài sản phi tiền tệ: doanh nghiệp kế toán như giao dịch cho thuê tài sản;
+ Nếu doanh nghiệp góp vào BCC bằng tiền: doanh nghiệp kế toán như giao dịch cho vay.
Kế toán tổn thất tài sản
Dự phòng giảm giá chứng khoán kinh doanh
Phù hợp với Thông tư 200, Thông tư 99 yêu cầu doanh nghiệp trích lập dự phòng cho chứng khoán kinh doanh khi có bằng chứng chắc chắn cho thấy giá trị thị trường của các loại chứng khoán doanh nghiệp đang nắm giữ vì mục đích kinh doanh bị giảm so với giá trị ghi sổ.
Ngoài ra, Thông tư 99 bổ sung hướng dẫn như sau:
- Đối với khoản đầu tư vào chứng khoán niêm yết hoặc có giá trị hợp lý của chứng khoán được xác định tin cậy, dự phòng phải được xác định dựa trên giá trị thị trường tại thời điểm cuối kỳ kế toán.
- Nếu không xác định được giá trị hợp lý tại thời điểm cuối kỳ kế toán, dự phòng được tính căn cứ trên khoản lỗ của đơn vị được đầu tư.
Nguyên tắc tương tự áp dụng khi xác định Dự phòng giảm giá đầu tư vào đơn vị khác (ngoại trừ đầu tư vào công ty con, công ty liên kết và liên doanh).
Dự phòng phải thu khó đòi
Thông tư 99 đưa ra hướng dẫn cụ thể về dự phòng phải thu khó đòi, áp dụng tỷ lệ phần trăm cho từng nhóm tuổi nợ phải thu quá hạn, phù hợp với quy định tại Thông tư số 48/2019/TT-BTC.
Tuy nhiên, Thông tư cũng quy định doanh nghiệp có thể áp dụng phương pháp khác để tính dự phòng phải thu khó đòi nếu doanh nghiệp có bằng chứng tin cậy hơn rằng phương pháp được lựa chọn đó phù hợp hơn.
Kế toán Chi phí chờ phân bổ (trước đây gọi là Chi phí trả trước)
Thông tư 99 loại bỏ hướng dẫn trong Thông tư 200 cho phép chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí đào tạo và chi phí quảng cáo phát sinh trong giai đoạn trước hoạt động được phân bổ tối đa trong ba năm.
Kế toán trái phiếu phát hành
Định nghĩa lãi suất thực
Thông tư 99 định nghĩa lãi suất thực (lãi suất hiệu lực) là lãi suất nội hàm của khoản cho vay/đi vay đã bao gồm các khoản chiết khấu hoặc phụ trội trái phiếu. Lãi suất thực khiến giá trị hiện tại của dòng tiền phải trả từ trái phiếu thường, không có quyền chuyển đổi trong suốt thời gian dự kiến của trái phiếu bằng giá phát hành, trừ chi phí giao dịch tại ngày phát hành.
Chi phí phát hành trái phiếu
Nếu doanh nghiệp có phát hành trái phiếu không thành công thì:
- Chi phí phát hành phải được phân bổ theo tỷ lệ số lượng từng loại trái phiếu phát hành thành công và không thành công.
- Chi phí phân bổ cho trái phiếu phát hành không thành công phải hạch toán vào chi phí hoạt động tài chính.
Trái phiếu phát hành có lãi suất thả nổi
Đối với trái phiếu phát hành có lãi suất thả nổi được xác định lại hàng kỳ theo thị trường, doanh nghiệp phải đánh giá liệu việc cập nhật định kỳ lãi suất thả nổi có triệt tiêu được chiết khấu, phụ trội liên quan đến lợi thế hoặc bất lợi của trái phiếu phát hành hay không.
- Nếu lãi suất thả nổi không triệt tiêu các lợi thế/bất lợi này, thời gian phân bổ chiết khấu/phụ trội sẽ là toàn bộ thời hạn trái phiếu phát hành;
- Nếu lãi suất thả nổi triệt tiêu các lợi thế/bất lợi này, thời gian phân bổ sẽ là từ ngày phát hành đến ngày chốt lãi suất tiếp theo.
Kế toán cổ tức và lợi nhuận phân chia
Thông tư 99 bổ sung TK 332 – Phải trả cổ tức, lợi nhuận và hướng dẫn chi tiết về thời điểm ghi nhận các giao dịch này.
Đối với nhà đầu tư
- Nếu cổ phiếu đã được đăng ký và lưu ký tập trung tại Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ Chứng khoán Việt Nam (VSDC), cổ tức phải được ghi nhận vào ngày đăng ký cuối cùng (ngày chốt danh sách).
- Nếu cổ phiếu chưa đăng ký, việc ghi nhận thực hiện theo quy định của Luật Doanh nghiệp hoặc điều lệ của đơn vị nhận đầu tư
Đối với đơn vị nhận đầu tư
Cổ tức phải trả hoặc lợi nhuận được chia phải được ghi nhận vào ngày doanh nghiệp không có quyền từ chối nghĩa vụ chi trả cổ tức, lợi nhuận cho các cổ đông, thành viên góp vốn.
- Đối với doanh nghiệp thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật về chứng khoán, thời điểm này được căn cứ theo quy định của pháp luật về chứng khoán.
- Đối với các đơn vị khác, thời điểm này được căn cứ theo quy định của Luật Doanh nghiệp và điều lệ của doanh nghiệp.
Hướng dẫn bị bãi bỏ
Thông tư 99 không còn bao gồm hướng dẫn liên quan đến phân phối lợi nhuận sau thuế cho cổ đông của công ty mẹ.
Kế toán vốn chủ sở hữu
Cổ phiếu ưu đãi được phân loại là nợ phải trả
Thông tư 99 bổ sung hướng dẫn rằng các loại cổ phiếu ưu đãi sau đây phải được phân loại là nợ phải trả:
- Cổ phiếu ưu đãi bắt buộc mua lại: Cổ phiếu ưu đãi phải được mua lại vào một thời điểm đã được xác định cụ thể trong tương lai hoặc khi thỏa mãn các điều kiện cụ thể và bên phát hành không thể từ chối nghĩa vụ thanh toán. Các điều khoản này phải được quy định rõ trong hồ sơ phát hành tại thời điểm phát hành cổ phiếu.
- Cổ phiếu ưu đãi có nghĩa vụ trả cổ tức cố định: Cổ phiếu có điều khoản yêu cầu bên phát hành bắt buộc phải trả cổ tức theo một tỷ lệ/mức cố định không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh.
- Cổ phiếu ưu đãi có điều khoản chuyển đổi không quy định một tỷ lệ chuyển đổi cố định mà dựa trên giá thị trường của cổ phiếu tại thời điểm chuyển đổi.
Vốn góp bằng ngoại tệ (đối với loại hình doanh nghiệp không phải công ty cổ phần)
Thông tư 99 quy định rằng phần chênh lệch giữa số vốn góp thực nhận và vốn điều lệ của doanh nghiệp sẽ được xác định theo quy định của pháp luật về đầu tư.
Phần chênh lệch giữa giá trị vốn góp thực nhận (quy đổi sang VND theo tỷ giá thực tế tại ngày góp vốn) và giá trị vốn theo điều lệ của doanh nghiệp sẽ được ghi nhận vào tài khoản thặng dư vốn (Tài khoản 4112).
Chi phí phát hành cổ phiếu
Thông tư 99 quy định rõ rằng nếu cổ phiếu được phát hành thành công, chi phí phát hành cổ phiếu sẽ được ghi nhận vào Tài khoản 4112 – Thặng dư vốn. Nếu việc phát hành không thành công, chi phí liên quan tương ứng với số cổ phiếu không phát hành được sẽ hạch toán vào chi phí hoạt động tài chính
Trả lại vốn góp cho cổ đông/nhà đầu tư
Thông tư 99 hướng dẫn việc xác định giá trị vốn góp trả lại cho chủ sở hữu căn cứ theo giá trị hợp lý của tài sản phi tiền tệ hoặc giá thỏa thuận do các bên thống nhất đánh giá. Phần chênh lệch giữa giá trị này và giá trị ghi sổ của tài sản sẽ được ghi nhận vào báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.
Ghi nhận vốn góp
Thông tư 99 làm rõ rằng các doanh nghiệp là công ty đại chúng chỉ được ghi nhận tiền mua cổ phiếu nhận được từ cổ đông vào Tài khoản 4111/4112 sau khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (ERC). Nếu đến thời điểm kết thúc kỳ kế toán mà chưa nhận được ERC, số tiền đã nhận và đang giữ trong tài khoản phong tỏa sẽ được trình bày là khoản Phải trả khác (Nợ 112/ Có 3388) và được thuyết minh trong Thuyết minh báo cáo tài chính. (Đối với doanh nghiệp không phải là công ty đại chúng, khi nhận tiền mua cổ phiếu của cổ đông, doanh nghiệp có thể ghi nhận vào tài khoản Nợ 112/ Có 4111/4112).
Kế toán các giao dịch bằng ngoại tệ
Tỷ giá hối đoái
- Thông tư 99 quy định rõ rằng doanh nghiệp có thể lựa chọn tỷ giá giao dịch thực tế tại ngày giao dịch là
+ Tỷ giá mua bán chuyển khoản trung bình của ngân hàng thương mại nơi doanh nghiệp thường xuyên có giao dịch hoặc
+ Tỷ giá xấp xỉ tỷ giá nêu trên với điều kiện chênh lệch không vượt quá +/-1%.
Các thay đổi quan trọng theo Thông tư 99 bao gồm:
- Quy định trước đây về việc sử dụng tỷ giá mua khi ghi nhận tài sản và tỷ giá bán khi nhận nợ phải trả đã được loại bỏ.
- Thông tư 99 cho phép và đưa ra các hướng dẫn về việc sử dụng tỷ giá giao dịch thực tế để hạch toán cho cả bên Nợ và bên Có của tất cả các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ.
- Không thực hiện đánh giá lại với một phần hoặc toàn bộ giá trị nợ phải thu có gốc ngoại tệ đã được trích lập dự phòng nợ phải thu khó đòi.
- Các khoản tiền gửi không kỳ hạn (tài khoản thanh toán) bằng ngoại tệ phải được đánh giá lại theo tỷ giá mua bán chuyển khoản trung bình của ngân hàng thương mại nơi doanh nghiệp mở tài khoản tiền gửi.
- Các chênh lệch tỷ giá hối đoái không được vốn hóa vào giá trị của tài sản dở dang.
Kế toán doanh thu
Phù hợp với Thông tư 200, Thông tư 99 tái khẳng định doanh thu phải được ghi nhận phù hợp với bản chất hơn là hình thức hoặc tên gọi của giao dịch. Hợp đồng với khách hàng có thể bao gồm nhiều giao dịch, doanh nghiệp cần phải nhận biết các giao dịch để áp dụng các điều kiện ghi nhận doanh thu phù hợp với quy định.
Đối với các giao dịch bán hàng bao gồm cả hàng hóa, dịch vụ bán và sản phẩm, dịch vụ khuyến mại, Thông tư 99 quy định doanh nghiệp phải phân bổ giá giao dịch cho cả sản phẩm, dịch vụ bán và sản phẩm, dịch vụ miễn phí trên cơ sở giá bán đơn lẻ của từng loại sản phẩm, dịch vụ.
Đại lý và Chủ thể
Thông tư 99 đưa ra các hướng dẫn chi tiết về việc xác định đại lý và chủ thể trong giao dịch bán hàng hóa, dịch vụ. Trong đó:
- Đại lý là bên trung gian sắp xếp, tổ chức để bên thứ 3 cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ cụ thể; đại lý không kiểm soát hàng hóa, dịch vụ cụ thể đó và do đó, đại lý ghi nhận doanh thu là phần hoa hồng hoặc số tiền thuần được hưởng.
- Chủ thể là bên có nghĩa vụ thực hiện cung cấp các hàng hóa, dịch vụ cho khách hàng. Chủ thể có quyền kiểm soát hàng hóa, dịch vụ cụ thể trước khi chuyển giao hàng hóa, dịch vụ đó cho khách hàng và doanh nghiệp là chủ thể ghi nhận doanh thu là giá giao dịch gộp. Doanh nghiệp có thể không nhất thiết phải kiểm soát một hàng hóa, dịch vụ cụ thể nếu doanh nghiệp có quyền sở hữu, quyền sử dụng về mặt pháp lý đối với hàng hóa, dịch vụ đó chỉ trong một khoảng thời gian ngắn trước khi chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng cho khách hàng.
Hàng khuyến mại
Ngoài các hướng dẫn được kế thừa từ Thông tư 200, Thông tư 99 có một quy định ngoại lệ sau:
“Trường hợp doanh nghiệp tặng hàng hóa, dịch vụ miễn phí cho khách hàng mà theo đặc điểm mô hình kinh doanh, giá bán hàng hóa, dịch vụ chính của doanh nghiệp không thay đổi cho dù khách hàng có nhận hay không nhận hàng hóa, dịch vụ tặng kèm thì doanh nghiệp ghi nhận giá trị hàng hóa, dịch vụ tặng kèm cho khách hàng vào chi phí bán hàng của doanh nghiệp tương tự trường hợp khuyến mại không kèm theo điều kiện.”
Doanh thu bán các căn hộ du lịch, căn hộ văn phòng kết hợp lưu trú
Doanh nghiệp căn cứ vào bản chất các điều khoản trong hợp đồng (như thời hạn, quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng,… ) để xác định từng cấu phần bán, cấu phần thuê, cấu phần tài chính có liên quan đến hợp đồng đó để áp dụng chính sách kế toán phù hợp nhất dựa trên đặc điểm, bản chất của giao dịch. Đồng thời, doanh nghiệp phải thuyết minh trên Báo cáo tài chính về bản chất của hợp đồng và cách thức hạch toán được áp dụng.
Chương trình dành cho khách hàng truyền thống
Thông tư 99 giữ lại các hướng dẫn kế thừa từ Thông tư 200, nhất quán với IFRIC 13 – Chương trình dành cho khách hàng truyền thống, và bổ sung thêm rằng, trường hợp có phát sinh chênh lệch giữa số ước tính nghĩa vụ phải trả cho khách hàng truyền thống với số thực tế phát sinh thì cuối kỳ kế toán doanh nghiệp điều chỉnh tăng, giảm doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ trong kỳ.
Các thay đổi khác
Hướng dẫn về việc ghi nhận doanh thu từ hợp đồng cho thuê khi tiền thuê được nhận trước đã bị loại bỏ khỏi Thông tư 99.
Nguyên tắc kế toán các khoản được hỗ trợ, tài trợ, biếu, tặng
Thông tư 99 cung cấp các hướng dẫn cụ thể về việc hạch toán các khoản được hỗ trợ, tài trợ, biếu, tặng như sau:
- Giá trị của các khoản được hỗ trợ, tài trợ, biếu, tặng: nếu chưa có thông tin về giá trị của các khoản được hỗ trợ, tài trợ, biếu, tặng thì việc xác định giá trị của các tài sản này có thể căn cứ vào giá thị trường của tài sản hoặc giá trị theo đánh giá của Hội đồng đánh giá tài sản của doanh nghiệp hoặc tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp. Doanh nghiệp phải thuyết minh trên Báo cáo tài chính về căn cứ xác định giá trị tài sản đó.
- Các khoản được hỗ trợ, tài trợ, biếu, tặng không kèm theo điều kiện: được ghi nhận vào Thu nhập khác (Tài khoản 711)
- Các khoản được hỗ trợ, tài trợ, biếu, tặng kèm theo điều kiện:
+ Ban đầu được ghi nhận vào Doanh thu chờ phân bổ (Tài khoản 3387 – Doanh thu chờ phân bổ).
+ Khi doanh nghiệp thỏa mãn các điều kiện để được nhận khoản hỗ trợ, việc ghi nhận phụ thuộc vào bản chất của các điều kiện:
- Nếu khoản hỗ trợ liên quan đến hình thành tài sản cố định của doanh nghiệp được ghi tăng vốn Nhà nước tại doanh nghiệp, thì ghi nhận vào Vốn đầu tư của chủ sở hữu.
- Với các trường hợp còn lại, định kỳ phân bổ vào thu nhập khác.
+ Trường hợp doanh nghiệp không đáp ứng được các điều kiện và phải hoàn trả, ghi có vào các tài khoản liên quan.
Hướng dẫn Phương pháp kế toán chi phí thuế TNDN bổ sung theo quy định về thuế tối thiểu toàn cầu (“GMT”)
Theo quy định của Thông tư 99, chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định về thuế tối thiểu toàn cầu sẽ được hạch toán là chi phí thuế TNDN hiện hành và ghi nhận vào tài khoản 82112.
Thông tư 99 quy định doanh nghiệp phải ghi nhận tài sản thuế thu nhập hoãn lại tương ứng với phần ước tính nghĩa vụ chi phí thuế TNDN bổ sung theo quy định về thuế tối thiểu toàn cầu (điểm này của Thông tư 99 khác với quy định của IAS 12 sửa đổi).
Các quy định bổ sung đối với việc thực hiện chế độ kế toán doanh nghiệp
Quy định về sử dụng phần mềm kế toán
Thông tư 99 cũng đưa ra quy định chi tiết về việc sử dụng phần mềm kế toán. Người quản lý điều hành doanh nghiệp và kế toán trưởng (hoặc phụ trách kế toán) phải chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của thông tin, số liệu kế toán được cung cấp từ phần mềm kế toán.
Điều khoản chuyển tiếp
Thông tư 99 quy định doanh nghiệp phải tuân thủ Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 29 – Thay đổi chính sách kế toán, ước tính kế toán và các sai sót khi thực hiện việc thay đổi chính sách kế toán do áp dụng Thông tư. Theo đó, doanh nghiệp sẽ áp dụng phương pháp điều chỉnh hồi tố hoặc phi hồi tố đối với những thay đổi trong chính sách kế toán được quy định cụ thể, chẳng hạn như thay đổi liên quan đến chi phí sửa chữa, bảo dưỡng, hoặc thay đổi liên quan đến các khoản đầu tư trái phiếu có chiết khấu hoặc có phụ trội. Đối với những thay đổi trong chính sách kế toán không có quy định cụ thể trong Điều khoản chuyển tiếp của Thông tư thì doanh nghiệp có thể áp dụng phi hồi tố.
>>> TÌM HIỂU THÊM VỀ THÔNG TƯ 99
Tổng quan về Thông tư 99/2025/TT-BTC
Nguyên tắc lập và trình bày báo cáo tài chính theo Thông tư 99/2025/TT-BTC

Đơn vị đào tạo ACCA, Thi tuyển dụng Kiểm toán, tư vấn tài chính Big4, Nonbig và Tiếng Anh giao tiếp, Ielts.
Với đội ngũ giảng viên là 100% ACCA Members cùng kinh nghiệm thực chiến trong lĩnh vực kế toán – kiểm toán và tài chính, KLE không chỉ mang đến kiến thức nền tảng vững chắc mà còn giúp học viên phát triển kỹ năng ứng dụng thực tế. Không chỉ là chương trình đào tạo truyền thống, KLE tạo ra một môi trường học tập thực tiễn, nơi mối quan hệ giữa người học và giảng viên không dừng lại ở giảng dạy kiến thức mà còn phát triển sâu hơn thành mối quan hệ Mentee – Mentor.

